Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc


Monday, 16 July 2012 02:07
Phạm Thị Thuỷ Chung. - http://www.vanhoahoc.vn
Kinh Bắc là quê hương của Lý Công Uẩn, vị vua đã có công sáng lập nên triều đại nhà Lý, triều đại huy hoàng mở đầu lịch sử nền quân chủ của quốc gia Đại Việt. Kinh Bắc cũng là quê hương của những làn điệu dân ca Quan họ đằm thắm - trữ tình. Kinh Bắc còn là cái nôi văn hoá của người Việt, vùng đất của các nhà khoa bảng, các danh nhân, các nghệ sĩ tài năng về thơ ca, nhạc họa. Bởi vậy, nói đến Kinh Bắc, chúng ta thường liên tưởng ngay đến một “kinh đô văn hoá” của người Việt suốt từ Cổ, Trung đến Cận đại. Vậy yếu tố nào đã kiến tạo nên vùng văn hoá Kinh Bắc rực rỡ trong suốt hàng nghìn năm qua? Câu trả lời: Đó là do “khí thiêng” của một vùng địa linh - nhân kiệt đã hun đúc nên văn hoá Kinh Bắc.
Câu trả lời nghe thật đơn giản, nhưng để đi tìm cái “khí thiêng” của vùng địa linh - nhân kiệt này, đã có nhiều nhà nghiên cứu với hàng trăm công trình khảo cứu - nghiên cứu đề cập tới. Vậy mà cho đến nay, văn hoá Kinh Bắc vẫn còn chứa đựng trong nó nhiều điều bí ẩn. Chính những điều bí ẩn này đã tạo nên sức hấp dẫn của văn hoá Kinh Bắc trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Trong rất nhiều bí ẩn đang ẩn chứa trong lòng văn hoá Kinh Bắc, có một yếu tố văn hoá đặc biệt của vùng đất này mà cho tới nay vẫn còn là một dấu hỏi lớn đối với các nhà nghiên cứu, đó là dòng sông có tên gọi Tiêu Tương.
Tiêu Tương là một dòng sông cổ đã “chết” nhưng lại đang “sống” trong tâm thức người dân Kinh Bắc với những huyền thoại, những câu chuyện kể, những áng văn thơ và những làn điệu dân ca trữ tình. Tiêu Tương không phải là một con sông lớn nhưng lại được nhắc đến rất nhiều trong các tài liệu và các tác phẩm văn học suốt hàng nghìn năm qua. Tiêu Tương có lúc được nhắc đến rất cụ thể, có lúc lại rất mơ hồ như chưa từng tồn tại... Chính những yếu tố này đã khiến cho Tiêu Tương giống một dòng sông huyền thoại hơn là một chứng cứ lịch sử. Có lẽ vì vậy mà cho đến nay, các tài liệu thành văn nói về dòng Tiêu Tương rất khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau.
Để có được một cái nhìn cụ thể về dòng sông này, rất khó để chúng ta có thể đọc được một cách đầy đủ thông tin qua các tài liệu trong chính sử. Vì vậy, bên cạnh việc sử dụng những thông tin đã thu thập được qua các nguồn tư liệu thành văn, chúng tôi đã sử dụng phương pháp tiếp cận địa - văn hoá để xác định những thông tin đó qua quá trình điều tra điền dã tại thực địa. Kết quả bước nghiên cứu đầu cho thấy: Tiêu Tương không chỉ đóng vai trò quan trọng trong văn học và nghệ thuật mà còn là một chứng tích lịch sử quan trọng của người Việt trong quá trình xây dựng nền độc lập từ giai đoạn trước Công nguyên. Hơn thế, Tiêu Tương còn là một huyết mạch quan trọng trong việc chuyển tải, giao lưu văn hoá với các khu vực địa lý khác. Có thể nói, Tiêu Tương chính là một thành tố quan trọng đã góp phần hình thành nên vùng văn hoá xứ Bắc từ hơn 2000 năm qua. Xác định rõ thành tố nói trên cũng chính là mục đích của chúng tôi khi thực hiện bài viết này.       
1. Dòng sông trong văn hoá người Việt thời kỳ mở nước
Theo nghiên cứu của các nhà sử học thì quốc gia Âu Lạc của người Việt thời An Dương Vương vốn là sự thống nhất của hai bộ tộc Âu Việt ở vùng núi và Lạc Việt ở đồng bằng tạo nên quốc gia đầu tiên của người Việt. Người Việt Âu Lạc chọn sông - nước làm môi trường sinh sống và những vùng đất ven sông nghiễm nhiên trở thành các trung tâm văn hoá. Họ dùng nước làm phương thức di chuyển, đường thuỷ là hệ thống giao thông chủ yếu. Vì vậy, các dòng sông đối với người Việt đóng một vai trò quan trọng như những mạch máu trong một cơ thể sống. Bên cạnh việc sử dụng sông - nước làm mạch máu giao thông, người Việt còn sử dụng sông - nước làm hào luỹ thiên nhiên để chống lại kẻ thù. Thành Cổ Loa chính là một ví dụ điển hình cho loại hào “công sự” này. Sông - nước còn là môi trường để người Việt khai thác sản vật phục vụ cho đời sống. Và một yếu tố cực kỳ quan trọng đã tạo nên nền văn minh lúa nước của người Việt chính là môi trường sông - nước mà họ sinh sống. Có thể nói, sông - nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với người Việt cả trong đời sống sinh hoạt cũng như trong tâm thức của họ. Nói cách khác, tính sông nước chính là một đặc trưng của văn hoá Việt Nam
Tiêu Tương không chỉ là một huyết mạch giao thông quan trọng của vua An Dương Vương mà còn là một hào luỹ thiên nhiên che chắn, bảo vệ kinh đô Cổ Loa non trẻ của quốc gia Âu Lạc. Hơn thế, dòng chảy của Tiêu Tương còn chở mạch nguồn văn hoá của người Việt từ kinh đô đến khắp các làng quê. Cũng giống như Tô Lịch với Thăng Long - Hà Nội, Thu Bồn với Hội An hay Hương Giang với Huế, Tiêu Tương là một dòng sông mang đầy ắp các yếu tố văn hoá và là nguồn cảm hứng vô tận của những sáng tạo vượt thời gian và không gian. Tiếc thay, Tiêu Tương đã “chết” và sử sách thì rất ít nhắc tới. Mặc dù vậy, những giá trị văn hoá dân gian mà dòng sông này chứa đựng vẫn đang sống một cách hết sức mãnh liệt. Đó chính là nguồn tư liệu vô giá để chúng ta có thể làm “sống” lại dòng sông một thời vang bóng.
Thông qua bài viết này, chúng tôi hy vọng bước đầu sẽ tiếp cận được một phần trong những mối quan hệ của sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc để xác định vai trò và vị trí của dòng sông này với văn hoá Kinh Bắc xưa và nay. 
2. Đôi nét về dòng sông cổ Tiêu Tương qua thư tịch và truyền thuyết dân gian
Nguồn sử liệu qua các thư tịch cổ cho đến nay chỉ nhắc đến sông Tiêu Tương một cách rất khiêm tốn. Trong đó, có rất nhiều tài liệu chỉ đề cập đến tên sông mà không nói rõ vị trí của nó nằm ở đâu trong hệ thống sông ngòi chằng chịt ở phía bắc sông Hồng. Vì vậy, trong bài viết này chúng tôi không trích dẫn những nguồn tài liệu đó. Tuy nhiên, trong số các tài liệu thành văn đã sưu tầm, chúng tôi cũng đã tìm ra được một số ghi chép tương đối cẩn thận. Sách Đại Nam nhất thống chí(1) chép: “sông Tiêu Lương cũ ở địa giới phủ Từ Sơn, phát nguyên từ cái đầm lớn xã Phù Lưu huyện Đông Ngàn, chảy từ phía tây sang đông bắc qua xã Tiêu Sơn huyện Yên Phong, chuyển sang địa phận hai huyện Tiên Du và Quế Dương vào sông Thiên Đức". Sách Địa chí Hà Bắc(1) ghi rằng: “Sông Tiêu Lương, còn gọi là sông Tiêu Tương, ở địa giới huyện Tiên Sơn phát nguyên từ hồ Lãng Bạc chảy từ phía tây sang đông bắc qua xã Tương Giang, Vân Tương, qua các làng quan họ nổi tiếng như Lim, Bưởi, Ó, Se, Bò... rồi chảy vào sông Cầu”... Ngoài ra, các công trình nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu quen biết như: Đào Duy Anh (lịch sử), Nguyễn Văn Huyên (văn hoá), Lê Bá Thảo, Nguyễn Văn Tiệp (địa lý), Trần Quốc Vượng (lịch sử)(2) v.v... cũng có đề cập đến sông Tiêu Tương, nhưng cũng như những chi tiết chúng tôi đã trích ở trên, đều chưa đi đến thống nhất. Vì vậy, khi tiến hành khảo sát sông Tiêu Tương theo các tài liệu này chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, những chi tiết trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời  của Đào Duy Anh được chúng tôi chọn làm “xuất phát điểm” cho quá trình điền dã thực địa. Trên cơ sở nguồn tài liệu này, chúng tôi nghĩ rằng trước khi đổ về đầm Phù Lưu, sông Tiêu Tương là một nhánh của sông Hồng, tách ra từ phía đông huyện Mê Linh, qua phía Bắc huyện Phong Khê, tiến gần sát phía Nam Cổ Loa... Phải chăng sông Hoàng Giang mà các tài liệu của các tác giả đi trước đã đề cập tới và Tiêu Tương đã từng chung một dòng? Hay nói cách khác, những tên sông đó phải chăng chỉ là tên của một dòng sông có tên gọi Tiêu Tương?
Để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi này, công việc của chúng tôi là tiến hành xác định dòng chảy thực tế của sông Tiêu Tương. Tuy nhiên, trong số những tài liệu chúng tôi có hiện nay, không có tài liệu nào ghi chép đầy đủ và cho phép hình dung rõ nét về toàn bộ dòng chảy của con sông Tiêu Tương. Chính hình ảnh "thoắt ẩn, thoắt hiện" của con sông đã thôi thúc chúng tôi lần theo dòng chảy cổ xưa của nó. Và kết quả bước đầu cho phép chúng tôi đặt ra một giả thuyết: Sông Tiêu Tương là đoạn cuối của sông Hoàng (Hoàng Giang) trước khi nhập vào sông Cầu rồi theo Lục Đầu ra biển. Phải chăng chính dòng chảy này đã tạo nên một dải văn hoá của các làng quê ven đôi bờ sông, mang đậm đặc trưng của xứ Kinh Bắc, vùng đất được mệnh danh là cái nôi văn hoá của người Việt qua suốt các thời kỳ Cổ, Trung đến Cận đại? Đây sẽ là những nội dung mà chúng tôi muốn làm rõ trong quá trình nghiên cứu về dòng sông cổ đầy ắp huyền thoại này.
Một điều hết sức thú vị là sông Tiêu Tương tuy “mù mờ” trong chính sử nhưng lại được thể hiện rất “đậm nét” qua các truyền thuyết, các câu chuyện cổ, các áng thơ văn, âm nhạc... của dân gian hay qua các tên đất, tên làng - những địa danh văn hoá mà nó đi qua. Đây chính là nguồn dữ liệu sống rất có giá trị trong thực tế để chúng tôi kiểm chứng những giả thuyết mà mình đã đặt ra. Một trong những câu chuyện được nhiều người kể và cho tới nay vẫn còn lưu lại khá đậm nét trong tâm thức dân gian, đó là chuyện tình chàng Trương Chi. Chuyện kể rằng: “Ngày xưa, có một chàng đánh cá nghèo tên là Trương Chi sống trên sông Tiêu Tương, trong một chiếc thuyền chài nhỏ. Hằng ngày, chàng vừa tung chài, kéo lưới, vừa ca hát say sưa. Gần khúc sông nơi chàng thường đánh cá có lâu đài của quan Thừa tướng. Nàng Mỵ Nương con gái quan Thừa tướng hằng ngày nghe tiếng hát của chàng mà đem lòng yêu say đắm. Cho đến một ngày, chàng Trương Chi chuyển tới đánh cá ở một khúc sông khác. Mỵ Nương vì nhớ mong tiếng hát của chàng mà sinh ốm tương tư. Thừa tướng cho mời biết bao thầy thuốc tài giỏi trong vùng tới cứu chữa cho con gái yêu, thế nhưng chẳng thầy thuốc nào chữa khỏi được bệnh cho nàng. Biết được uẩn khúc trong lòng Mỵ Nương, quan Thừa tướng cho người tìm Trương Chi đưa về dinh của mình. Hằng ngày, Thừa tướng giao cho chàng nhiệm vụ sắc thuốc và hát cho Mỵ Nương nghe. Gặp mặt chàng đánh cá xấu xí và nghèo khổ, Mỵ Nương thất vọng và từ đó khỏi bệnh.
Chàng Trương Chi lại trở về với dòng Tiêu Tương thơ mộng. Từ đó, đến lượt chàng thầm yêu trộm nhớ nàng Mỵ Nương xinh đẹp. Ôm mối tình vô vọng, giận cho duyên phận hẩm hiu, chàng nhảy xuống sông tự vẫn. Hồn chàng sau khi chết nhập vào cây bạch đàn.
Quan Thừa tướng vô tình mua cây bạch đàn về, sai người tiện một bộ ấm chén uống trà rất đẹp. Lạ kỳ thay, mỗi khi rót nước vào chén, người ta lại thấy thấp thoáng hình bóng chàng đánh cá xấu xí trong lòng chén nước. Mỵ Nương cầm chiếc chén trên tay, cảm động vì chuyện xưa, giọt nước mắt của nàng nhỏ vào trong chén. Và, chiếc chén bỗng tan ra thành nước".(1)
Câu chuyện trên đây cũng giống như rất nhiều câu chuyện tình lãng mạn khác, nhưng điều đặc biệt là những cái tên Trương Chi, Mỵ Nương, Tiêu Tương... trong câu chuyện này đã trở nên rất đỗi quen thuộc đối với người dân Kinh Bắc; quen thuộc tới mức hầu như bất cứ một người già nào ở nơi này cũng đều thuộc một giai thoại hay một khúc hát về Mỵ Nương, Trương Chi hay Tiêu Tương. Điều đó cho thấy, sông Tiêu Tương mặc dù tới nay là con sông “chết” nhưng đã in sâu trong tiềm thức của người dân xứ Bắc. Hay nói cách khác, sông Tiêu Tương đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình kiến tạo nên bản sắc văn hoá xứ Bắc và là một trong những yếu tố tiền đề cho sự ra đời của vùng văn hoá Kinh Bắc.
3. Mối quan hệ của sông Tiêu Tương với vùng văn hoá xứ Bắc
Theo các thư tịch cổ (như Đại Nam nhất thống chí, Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục...) Kinh Bắc là nơi dân cư đông đúc, kinh tế phát triển, giao thông thuận lợi (chủ yếu là đường thuỷ dựa trên hệ thống các sông ngòi ở phía bắc sông Hồng). Nhà Hán mở con đường bộ từ Hồ Nam qua Ngũ Lĩnh đến Quảng Tây và kéo dài xuống phía nam sang đất Việt ta đến lưu vực sông Thương. Sau đó con đường này được kéo dài đến Long Biên, rồi đến Tống Bình (Hà Nội bây giờ). Đây chính là con đường bộ từ phương bắc sang nước ta, chạy qua đất Vũ Ninh, dựa theo bờ sông Tiêu Tương(1). Thời phong kiến, con đường này là con đường đi sứ giữa nước ta với Trung Quốc, được gọi là Quan lộ. Đồng thời, đây cũng là con đường quân sự, con đường giao lưu kinh tế, văn hoá quan trọng của các lộ phía bắc nước ta. Thời Pháp thuộc, Quan lộ được nắn thẳng và mở rộng thành Quốc lộ 1. Cho tới ngày nay, đây vẫn là một huyết mạch quan trọng hàng đầu trong hệ thống giao thông của nước ta.
Với những đặc điểm nói trên, vùng văn hoá này đã được tiếp cận khá sớm với văn hoá phương bắc. Việc học hành, thi cử ở đây rất thịnh. Một đặc điểm nổi bật nữa của Vũ Ninh là sự ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo. Chùa Pháp Vân ở Thuận Thành, chùa Kiến Sơ ở Phù Đổng là những chùa có rất sớm và nổi tiếng ở Việt Nam từ thời Bắc thuộc. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (bút danh của Hoà thượng Thích Nhất Hạnh - người Việt Nam đầu tiên vinh dự được đề cử nhận giải Nobel hoà bình) thì chùa Dâu ở Bắc Ninh chính là một trong ba thánh tích Phật giáo sớm nhất ở Trung Hoa và Việt Nam có từ những năm đầu Công nguyên (hai trung tâm khác là Lạc Dương và Bành Thành ở Trung Hoa). Vào thời Lý, đạo Phật chiếm vị trí độc tôn trong xã hội nên rất nhiều chùa chiền đã được xây dựng tập trung trên đất của bộ Vũ Ninh. Chính những nét văn hoá này là yếu tố cấu thành đặc trưng văn hoá của vùng đất Kinh Bắc: Vừa mang tính hồn nhiên, bình dị của một nền văn hoá dân gian, lại vừa kín đáo và mang tính triết lý sâu xa của một nền văn hoá bác học.
Để hiểu rõ hơn về mối quan hệ của sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc thì việc tìm hiểu những địa danh văn hoá mà con sông này chảy qua đóng vai trò quyết định trong quá trình nghiên cứu của chúng tôi.
Dọc theo chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông ta có rất nhiều địa danh nổi tiếng trong lịch sử gắn với Hoàng Giang, Tiêu Tương. Và địa danh đầu tiên chúng tôi chọn khảo sát là Cổ Loa. Khi xây thành Cổ Loa, An Dương Vương đã lợi dụng Hoàng Giang tạo nên các đoạn hào tự nhiên để bảo vệ thành(1). Cổ Loa đã đi vào sử sách với vị thế là đô thành của An Dương Vương, triều vua khai sáng của người Việt từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Khi nhà nước Âu Lạc sụp đổ, đất nước lại rơi vào tay nhà Hán. Trải qua hơn một nghìn năm bị đô hộ, chiến thắng lừng lẫy của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử dân tộc. Với ý chí xây dựng lại cơ đồ của cha ông, Ngô Quyền tiếp tục định đô tại Cổ Loa(2). Và Cổ Loa lại trở thành kinh đô của người Việt và là đất Kinh Bắc trong giai đoạn thuộc Hán. Ngày nay, Cổ Loa thuộc địa phận Hà Nội, thủ đô của nước Việt Nam. Vùng đất này đã trở thành một địa danh lịch sử - văn hoá quan trọng của thủ đô, chứa đựng trong lòng mình một kho tàng văn hoá vô cùng quý giá có thể minh chứng cho bao sự đổi thay của đất nước trên những chặng đường lịch sử.
Nối liền với Cổ Loa, Dục Tú là một trong những địa danh văn hoá quan trọng tiếp theo nằm ven bờ sông cổ. Một điều rất lý thú là Dục Tú trong hơn hai nghìn năm qua đã ngẫu nhiên trở thành mảnh đất ngoại thành của ba trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá quan trọng của người Việt từ thời An Dương Vương đến nay, đó là Cổ Loa, Kinh Bắc và Thăng Long - Hà Nội. Do không đóng vai trò là trung tâm chính trị nên Dục Tú ít bị tàn phá bởi các thế lực đối kháng như với Cổ Loa và Thăng Long - Hà Nội. Chính điều này đã khiến cho các di sản văn hoá của người Việt nơi đây tồn tại một cách liền mạch.(1)
 Một truyền thuyết trong dân gian còn lưu lại cho biết: Trong thời gian ở Cổ Loa, Ngô Quyền đã lấy vợ là một cô gái cắt cỏ nghèo mang họ Đỗ, quê ở Dục Tú. Do người vợ này không thể có con nên sau đó đã được ông ban lộc và cho về quê sinh sống. Bà phi họ Đỗ đã xin với Ngô vương cho mở mang quê nhà. Lúc bấy giờ, Dục Tú còn ở trên bãi sông. Bà phi thả một quả bưởi xuống dòng Hoàng Giang, xin rằng quả bưởi trôi đến đâu, sẽ được cắm địa giới làng Dục Tú đến đó. Quả bưởi của bà đã trôi tới sát chân thành Cổ Loa rồi dừng lại. Hoàng Giang đã trở thành gạch nối gắn kết giữa Cổ Loa và Dục Tú từ đó.
Trong khi điền dã, chúng tôi đã được nghe các cụ già ở Dục Tú kể lại là cách đây vài chục năm, giữa hai thôn Tiền và Hậu là một dãy ao chạy dọc theo chiều dài của làng. Dân hai thôn chiều chiều ra cầu ao rửa rau vẫn thường trao đổi những câu chuyện lợn gà, tấm cám... Ấy vậy mà giọng nói của hai thôn lại hoàn toàn khác biệt. Như vậy, có thể dãy ao đó xưa kia chính là khúc sông Hoàng (Hoàng Giang) chảy qua DụcTú. Một dấu vết khác của dòng sông đã từng chảy qua Dục Tú là cánh đồng Rộc Sổ. Lúa trồng ở đây tốt nhanh kỳ lạ. Khi lúa đương thì, cả cánh đồng lúa tốt như một rừng lau, bông lúa cao ngút đầu người. Sở dĩ lúa ở đây tốt tươi như vậy là bởi vì được nuôi dưỡng bằng nguồn phù sa đọng trong lòng sông cũ. Những di vết của dòng sông này tiếp tục “dẫn” chúng tôi đến một làng quê Kinh Bắc khác đó là Phù Lưu.
Phù Lưu là nơi nổi tiếng trù phú của đất Kinh Bắc xưa, với đình Phù Lưu, với con đường làng lát đá phiến màu xanh, với đầm Phù Lưu mang đầy màu sắc huyền thoại của những câu chuyện kể về dòng Tiêu và chàng Trương. Từ Phù Lưu, sông Tiêu Tương len lỏi qua Dương Lôi, quê hương của bà Phạm Thị, mẹ của đức Lý Thái Tổ. Sau đó dòng sông này chảy giữa hai xã Tam Sơn và Tương Giang. Đất Tam Sơn xưa kia tương truyền là nơi có nhiều người đỗ đạt. Vì thế, theo truyền thuyết dân gian, đây là nơi có dinh quan Thừa tướng, cha của nàng Mỵ Nương. Cũng chính tại nơi đây đã ghi lại câu chuyện cảm động về mối tình của chàng Trương Chi với nàng Mỵ Nương. Gần như song song với Quốc lộ 1, sông Tiêu Tương tiếp tục chảy giữa các làng Quan họ, qua Lim, Xuân Ổ, Võ Cường, ... rồi đổ về sông Cầu để từ đó theo dòng Lục Đầu mà ra biển.
Kết quả khảo cổ thu được tại Phù Lưu cho thấy dấu vết của một công xưởng chế tạo đá (Bãi Tự) có quy mô khá lớn. Người ta đã tìm thấy ở đây hàng trăm lưỡi cưa và mũi khoan đá, cùng rất nhiều phế vật, phác vật. Di chỉ này trải rộng và lan cả đến địa phận xã Tương Giang. Tại Xuân Ổ, người ta cũng đã phát hiện ra di chỉ Vườn Mao. Khi đào thám sát khu vực này đã thu được nhiều bàn mài, chày nghiền, đục đá, mảnh vòng đá, mũi nhọn đá... Một điều khá thú vị mà các nhà khảo cổ học đã xác định được là niên đại của các di chỉ vừa liệt kê trên đây đều mang nhiều yếu tố của văn hoá sơ kỳ thời đại đồng thau của nước ta (thuộc giai đoạn Phùng Nguyên muộn - Đồng Đậu sớm)(1). Những hiện vật như vậy cũng đã được tìm thấy tại di chỉ Bãi Mèn ở Dục Tú. Sự đồng đại của chúng cho phép chúng ta khẳng định dấu tích của người Việt cổ đã tụ cư lập làng và tiến hành những hoạt động kinh tế - xã hội phong phú ven bờ sông Tiêu Tương từ 2500 đến 3.500 năm. 
Tại Phù Lưu, chúng tôi đã khảo sát một chứng cứ quan trọng, chính yếu tố này đã minh chứng cho nguyên nhân dẫn đến “cái chết” của dòng Tiêu Tương, đó là đầm Phù Lưu. Theo tài liệu Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ thì đầm làng Phù Lưu là dấu tích của sông ĐuốngVào thế kỷ XV, do Hồ Quý Ly cho đào lòng sông để uốn thẳng dòng chảy, sông Đuống đổi dòng, từ đấy sông Tiêu Tương bị mất nguồn nước và bị bồi lấp dần. Chứng cứ này về thời điểm lịch sử thì đáng tin vì việc nắn dòng sông Đuống là có thật. Tuy nhiên, về vị trí địa lý có đúng như đã dẫn ở đây hay không thì còn phải tìm hiểu thêm.  
Ngày nay, sông Tiêu Tương đã bị lấp gần hết, có chỗ bồi thành ruộng, có đoạn đắp thành đường. Chỉ còn đây đó một vài khúc sông còn sót lại và được gọi là ao, đầm... Nhưng, dòng sông đẹp gắn với những truyền thuyết và mạch nguồn văn hoá cổ truyền của vùng đất Kinh Bắc xưa vẫn còn sống động trong lòng văn hoá dân gian. Điều gì đã khiến cho con sông này trở nên hấp dẫn đến vậy? Đó chính là sức sống mãnh liệt của các giá trị văn hoá dân gian và sự cuốn hút của một dòng sông đã đi vào huyền thoại.
Như vậy, sông Tiêu Tương không chỉ là một dòng sông mang đầy ắp những yếu tố huyền thoại mà còn là một dòng sông chứa đựng trong nó rất nhiều những yếu tố lịch sử. Rõ ràng, mối quan hệ giữa sông Tiêu Tương với văn hoá Kinh Bắc là một mối quan hệ lịch sử văn hoá hết sức chặt chẽ: Sông Tiêu Tương góp phần kiến tạo nên văn hoá Kinh Bắc và chính văn hoá Kinh Bắc đã lưu giữ lại dòng sông huyền thoại trong tiềm thức của người dân Kinh Bắc. Có thể nói, sông Tiêu Tương đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành nên các địa danh văn hoá ở Kinh Bắc và chính những địa danh văn hoá này đã cấu thành vùng văn hoá Kinh Bắc rực rỡ trong suốt hàng nghìn năm qua.
4. Một vài kết luận bước đầu và một số nghi vấn
4.1. Một vài kết luận
a) Sông Tiêu Tương là một dòng sông có thực nhưng đã “chết”. Tạm thời, chúng ta có thể hình dung dòng chảy của sông Tiêu Tương bắt nguồn từ một nhánh sông Hồng đi qua Cổ Loa, Dục Tú, Phù Lưu, Dương Lôi, Tam Sơn, Tương Giang, Lim, Xuân Ổ,... tạo nên một dải văn hoá làng ven sông mang đặc trưng của văn hoá Kinh Bắc.
b) Sông Tiêu Tương, cùng với sông Đuống, sông Cầu... đã hình thành nên một hệ thống giao thông thuỷ có vai trò đặc biệt quan trọng với Kinh Bắc trong quá trình dựng nước và giữ nước của người Việt kể từ khi An Dương Vương xây dựng quốc gia Âu Lạc.
c) Bên cạnh vai trò là huyết mạch giao thông từ thời An Dương Vương, Tiêu Tương là một con đường giao lưu kinh tế và truyền bá văn hoá từ trung tâm Cổ Loa tới các khu vực dân cư nằm ven bờ dòng sông cổ.
d) Những địa danh văn hoá có tên gọi liên quan đến Tiêu Tương như núi Tiêu, chùa Tiêu, Tương Giang... chính là di vết văn hoá của dòng sông cổ Tiêu Tương đã “hoá thạch” trong văn hoá dân gian Kinh Bắc.
4.2. Một số nghi vấn
Theo các tài liệu trong chính sử mà chúng tôi đã dẫn ở mục 2 như Đại Nam nhất thống chí, Địa chí Hà Bắc, thì sông Tiêu Tương khởi nguồn từ hồ Lãng Bạc hoặc đầm Phù Lưu và đổ vào sông Cầu. Như vậy, các tài liệu này mới chỉ đề cập đến một nửa cuối của con sông. Tất nhiên, hồ Lãng Bạc hay đầm Phù Lưu không thể “tự tạo” được nguồn nước cho Tiêu Tương. Vậy nguồn nước của sông Tiêu Tương (ngoài giả thiết do chúng tôi đặt ra là từ Hoàng Giang) do đâu mà có?   
Theo Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ thì do việc Hồ Quý Ly nắn dòng sông Đuống khiến Tiêu Tương bị cạn nước trở thành dòng sông chết có chính xác hay không? Nếu chưa chính xác thì cần phải xác định lại như thế nào?       
Trong quá trình điền dã, điều tra tại thực địa, một số người dân đã nói với chúng tôi rằng: Tiếng hát của chàng Trương Chi xưa chính là tiếng hát của những làn điệu dân ca Quan họ mà chúng ta được nghe hôm nay. Đây quả là một thông tin bất ngờ và thú vị nhưng cơ sở nào để xác định đó là sự thực?...
Để kiểm chứng tất cả những thông tin trên, chúng tôi còn phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về dòng sông cổ đầy ắp huyền thoại này. Trong khuôn khổ của một nghiên cứu chuyên khảo đang trong quá trình phôi thai, chúng tôi không dám đưa ra nhiều kết luận mà chưa qua kiểm chứng thực tế. Hy vọng trong tương lai, chúng tôi sẽ có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về dòng sông cổ Tiêu Tương; để từ đó có thể giúp cho bạn đọc có thêm một nguồn tài liệu tương đối đầy đủ và chính xác về dòng sông này và vai trò của nó đối với văn hoá Kinh Bắc cũng như văn hoá của người Việt trong suốt chiều dài của lịch sử dân tộc.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đại Nam nhất thống chí, Nxb Khoa học xã hội, H, 1971
2. Việt sử lược, tác giả khuyết danh đời Trần, thế kỷ XIV, Trần Quốc Vượng phiên dịch và chú giải, Nxb Văn - Sử - Địa, H, 1960
3. Đất nước Việt Nam qua các đời, Đào Duy Anh, Nxb Thuận Hoá, Huế, 1997
4. Địa chí Hà Bắc, Thư viện Hà Bắc xb, 1980
5. Thiên nhiên Việt Nam, Lê Bá Thảo, Nxb Khoa học kỹ thuật, H, 1977
6. Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử, Trần Quốc Vượng, Sở Văn hoá- Thông tin Hà Nội xb, 1970
7. Văn hoá Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, Trần Quốc Vượng, Nxb Văn hoá dân tộc - Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, H, 2000
8. Tìm hiểu âm nhạc dân tộc cổ truyền, Tô Ngọc Thanh - Hồng Thao, Nxb Văn hoá, H, 1986
9. Quan họ, nguồn gốc và quá trình phát triển, Đặng Văn Lung - Trần Linh Quý - Hồng Thao, Nxb Khoa học xã hội, H, 1978
10. Chuyện âm nhạc, Hồng Thao sưu tầm, Nxb Thanh Niên, H, 1978
11. Tài liệu Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ, Nguyễn Kỳ Chúc chủ biên
12. Văn bia Văn miếu Bắc Ninh, Nguyễn Quang Khải dịch và chú giải, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000


(1)
(2) đã hào phóng tặng cho người Việt trong giai đoạn đầu xây dựng quốc gia của họ. Đối với người dân Kinh Bắc, dòng sông không chỉ là một thực thể của tự nhiên mà còn là một “người bạn” gần gũi, thân thiết với con người. Dường như mỗi con người nơi đây đều gắn bó với một dòng sông đi qua quê hương của mình và “chảy” qua tâm hồn mình. Tiêu Tương chính là một dòng sông như vậy.
(1) Trang 79.
(1) Trang 60
(5) Xem thêm các tác giả này trong danh mục tài liệu tham khảo.
(1) Theo Chuyện âm nhạc, Hồng Thao sưu tầm, Nxb Thanh Niên, H, 1993
(1) Tài liệu Lịch sử truyền thống làng Xuân Ổ do Nguyễn Kỳ Chúc chủ biên
(1) Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử, Trần Quốc Vượng, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội, 1970, tr. 56, 57.
(2) Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch và chú giải, Nxb Văn - Sử - Địa, 1960, tr. 41.
(1) Hồng Hải - Thuỷ Chung, "Quần thể di tích lịch sử văn hoá Dục Tú", Tạp chí Kiến trúc, số 1/2005.
(1) Sách Địa chí Hà Bắc, Thư viện Hà Bắc xuất bản, 1980, tr. 395, 396.
Đọc tiếp »

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

Những chuyện tình trên sông Tiêu Tương

NGÀY 27 THÁNG 09, 2014 | 14:06 
SKĐS - Sông Tiêu Tương uốn lượn như những đài hoa tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, kỳ thú.
Trước kia, sông Tiêu Tương chảy qua đất Kinh Bắc bắt đầu từ một nhánh sông Hồng. Khởi nguồn là cửa sông Đuống, dòng Tiêu Tương chảy tới Phù Lưu, kéo qua Đình Bảng, dọc Tương Giang, rồi Lim, Xuân Ổ... và hòa nhập sông Cầu. Xưa còn có một nhánh chảy về Phật Tích, Tiên Du. Sông Tiêu Tương uốn lượn như những đài hoa tạo nên vẻ đẹp thơ mộng, kỳ thú. Nhưng giờ đây, con sông Tiêu Tương chỉ tồn tại như một dòng sông huyền thoại với những chuyện tình bất tử cùng những làn điệu dân ca quan họ xao xuyến lòng người.
1-Khối tình Trương Chi
Đến bất cứ một khúc sông Tiêu Tương còn sót lại, chạy dọc con đường quốc lộ A1 cũ, bao giờ cũng lung linh vẻ đẹp huyền ảo của câu chuyện nàng Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc. Nàng nhớ tiếng hát của Trương Chi, cùng với tình yêu say đắm của chàng đã đi xuống tuyền đài. Khi tôi đi dọc đoạn sông còn sót lại, chạy dọc con đường làng Đình Bảng ra tới đền Bát Đế vẫn còn nghe một bà bán bánh đa vừng kể chuyện như hát lại bi tình sử này: “Ngày xưa có anh Trương Chi. Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay. Cô Mỵ Nương ở Lầu Tây. Con quan thừa tướng ngày ngày cấm cung. Trường Chi chở đò ngoài sông. Cất lên tiếng hát động lòng Mỵ Nương...”. Thế rồi bà dẫn tôi ra tận một cổng sông ở kề xóm Bà La, Đình Bảng và kể rằng, người ta đã vớt xác Trương Chi lên ở đây, nhưng chỉ còn lại trái tim đã kết lại thành một khối ngọc trong vắt.
Khúc sông Tiêu Tương còn sót lại.
Trương Chi chết đi vì sự đau khổ tột cùng của tình yêu. Còn Mỵ Nương lại mất đi tiếng hát của Trương Chi, một khối tình sầu cảm làm rung động tâm hồn nàng. Đó là khối tình trong mộng với vẻ đẹp của giọng hát làm say đắm con tim Mỵ Nương. Mất nó, nàng còn đau khổ hơn. Trái tim chan chứa tình yêu của chàng đã hóa ngọc để ban đến cho nàng một vẻ đẹp thuần khiết nhất. Hình ảnh chàng lái đò và tiếng hát trong trẻo ngọt ngào lại vang lên từ trong lòng chén ngọc được đúc lên từ trái tim chàng. Và khi giọt nước mắt nhớ thương của nàng rớt xuống làm chén ngọc tan biến, đó cũng là lúc giọt tình đã được trao. Trương Chi chàng đã thoát vào cõi hư vô với tình thương yêu của nàng Mỵ Nương.
Người dân Kinh Bắc tự hào nói tiếng hát của chàng Trương Chi giờ đã được cha ông truyền lại muôn đời qua các làn điệu dân ca quan họ. Người ta còn kể, Lầu Tây nơi mà Mỵ Nương ngồi bên sông Tiêu Tương chảy qua là đồi Hồng Vân (Lim). Phải chăng để chia sẻ mối tình bi thảm ấy mà hàng năm, cứ đến ngày 13 tháng Giêng, trai gái khắp vùng về đây trẩy hội và hát giao duyên. Và cũng chính vì thế, hầu hết trong nhiều lời ca và giai điệu quan họ bao giờ cũng phảng phất nỗi buồn, nhất là những bài về tình yêu giữa liền anh và liền chị. Và thường họ chẳng mấy khi nên duyên vợ chồng. Hẹn thế đấy nhưng rồi mùa hội nào cũng vậy, cho dù có níu giữ, cho dù có dan díu nhưng rồi lại hẹn đến xuân sau.
Khi đến đây, tôi lại chợt nhớ đến trường ca Trương Chi của cố nhạc sĩ Văn Cao vẫn vẳng bên tai từ hồi thơ bé. Bố tôi hát nghe buồn đến rụng rời con tim, khi đến đoạn: “Đò trăng giữa dòng sông vắng. Gió đưa câu ca về đâu? Nhìn xuống đáy nước sông sâu. Tuyền anh đã chìm đâu. Thương khúc nhạc xa vời...”. Sau này, còn hàng chục nhạc sĩ khác cũng đã từng về đây để sáng tác với những cảm xúc sâu sắc và chia sẻ cùng nỗi đau muôn thuở, tình nghệ sĩ nghèo. Có lẽ vậy bởi nhạc sĩ Văn Cao lúc sinh thời đã nói mình chính là Trương Chi đó mà...
2-Một mối tình bí ẩn vĩ đại
Gần đây, tôi trở lại chùa Tiêu, đứng trên núi Tiêu nhìn xuống dòng sông Tiêu Tương xưa vì nghe nói nơi này không hề có hòm công đức. Đó là chuyện hiếm hoi từ xưa tới nay. Thật sự ngạc nhiên, nếu không nói đây là chùa cổ duy nhất và cũng là một trung tâm phật giáo từ lâu đời ở xã Tương Giang, huyện Từ Sơn, Bắc Ninh không đặt hòm công đức bao giờ. Thậm chí các ni sư ở đây thường hái thị chín trên cây đem ra chợ làng bán để phụ thêm tiền sắm hương lễ. Hiện ở chùa có mấy cây thị cổ rất lớn, quanh năm xanh tốt và đậu quả thơm lừng. Nghe cũng ngỡ như chuyện cổ tích thời nay vậy. Khó tin nhưng có thật.
Các nhà sư chùa Tiêu.
Nhưng nghe cô bán nước ngay chân chùa kể chuyện thì câu chuyện tình của mẹ vua Lý Thái Tổ bên sông Tiêu Tương này mới thấy còn bí ẩn hơn câu chuyện giữa Trương Chi và Mỵ Nương. Nhìn về phía xa, con hồ trước mặt chính là một khúc sông Tiêu Tương chảy qua chân núi, cô gái kể... “Vào khoảng năm 959, chùa Tiêu do thiền sư Lý Vạn Hạnh, người làng Đình Bảng chủ trì. Khi đó, ngài mới 21 tuổi, xuất gia tu học ở chùa Lục Tổ nhưng đã tinh thông phật pháp và binh pháp vì được rèn luyện, học tập từ nhỏ. Ngài còn có người em trai là Lý Khánh Văn cũng trụ trì ở chùa Cổ Pháp (còn gọi là chùa Dận) cách đây một chuyến đò cùng bên kia bờ sông Tiêu Tương.
Một hôm, có người đàn bà ôm đứa con trai mới đẻ đến đặt ở cửa tam quan chùa Cổ Pháp rồi bỏ đi. Thiền sư Lý Khánh Văn nghe thấy tiếng trẻ khóc, thấy xót lòng bèn bế vào chùa nuôi nấng và đặt tên là Lý Công Uẩn. Đó là vào năm 974. Thời gian trôi đi, Lý Công Uẩn lớn lên khỏe mạnh và tỏ ra có khí chất khác thường, học hành sáng dạ. Khi đến 5 tuổi, Lý Công Uẩn được cha nuôi đưa sang chùa Tiêu Tương để học thầy trụ trì chùa Tiêu là Lý Vạn Hạnh. Từ đó, sự nghiệp của Lý Công Uẩn được thiền sư Lý Vạn Hạnh gây dựng cho đến mấy chục năm sau trở thành vị vua đầu triều nhà Lý, lấy niên hiệu là Thuận Thiên và danh xưng là Lý Thái Tổ, lên ngôi năm 1009.
Nhưng trong suốt những năm tháng ấy, câu chuyện về người mẹ sinh một đứa con hoang trở thành một ông vua được bàn dân thiên hạ khắp nơi tò mò. Cha của vua là ai? Vì sao người mẹ lại phải bế đến chùa. Có chuyện tình oan trái hay cay đắng gì đây. Sau này người ta xác định được người đàn bà ấy chính là Phạm Thị Ngà, người ở Dương Lôi. Nhưng người chồng hay người tình phản bội kia là ai vậy? Thực ra dân tình cũng đã bàn đến chuyện người con bị bỏ ở chùa Cổ Pháp. Chuyện kể người đàn bà họ Phạm kia có thời gian làm việc ở chùa và đã quan hệ gần gũi, thân thiết với sư thầy. Khi thấy người con gái có thai, thầy bèn đuổi đi. Nhưng đến ngày sinh nở, người mẹ đã trả lại con cho nhà chùa. Họ còn đặt vè trong dân gian thế này: “Con ai đem bỏ chùa này. Nam mô di phật con thầy, thầy nuôi”.

Hai cây thị cổ ở chùa Tiêu
Lại có chuyện kể, người cha của đứa bé là một người làm thuê ở chùa Tiên Sơn và đã gặp người con gái xinh đẹp làng Dương Lôi. Hai người có lòng yêu mến nhau. Khi người con gái có mang thì người làm thuê kia bị đuổi ra khỏi chùa. Cả hai dắt díu nhau vào rừng, không có nơi ăn chốn ở và đói khát cùng đường. Người chồng đã uống phải nước giếng độc, bị chết trong rừng. Lúc đó, người vợ chỉ còn một con đường đến ăn mày cửa phật. Sau khi sinh con xong, để lại cho nhà chùa nuôi, người mẹ đã ra đi. Chuyện này còn được thêu dệt lên cùng những tình tiết huyền tích khác như trong một đêm nằm ngủ, thiền sư Lý Khánh Văn thấy mộng báo, sáng mai hãy đón hoàng đế đến chùa. Khi thiền sư ra chỉ thấy một người đàn bà sắp đẻ nên cưu mang giúp đỡ. Và người con được sinh ra sau này chính là vua Lý Thái Tổ.
Nhưng có lẽ còn ly kỳ hơn khi có chuyện kể chính thiền sư Lý Vạn Hạnh mới là cha đẻ thực sự của vua Lý Thái Tổ. Trước đó, khi xảy ra chuyện, ngài đã nhờ Lý Khánh Văn gánh vác hộ, nhận đứa bé làm con nuôi để lấy họ Lý. Chính vì thế mà Lý Vạn Hạnh đã dồn toàn bộ tâm trí và tài năng để dạy dỗ, tạo dựng nghiệp lớn cho con trai tiếp nối lý tưởng trị vì thiên hạ của mình. Thiền sư còn tạo dựng những thế lực trong triều Tiền Lê cùng những lời sấm truyền trong dân gian để chớp thời cơ cho Lý Công Uẩn đoạt ngôi vua như mệnh trời sắp đặt. Và có thể nói, triều họ Lý chính do một tay ông dựng lên. Thậm chí, chuyện vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thành Thăng Long năm 1010 cũng bắt đầu từ ý tưởng của Lý Vạn Hạnh. Hơn nữa, sau này, vua Lý Thái Tổ đã về quê nội ở Đình Bảng để chọn đất thờ và trở thành lăng mộ hiện nay ở đền Bát Đế lại càng thêm khẳng định cha ngài chính là Sư Tổ Lý Vạn Hạnh!?
3-Ghi trên đỉnh núi Tiêu
Tôi cứ mơ màng trong câu ca xưa từ đâu đó trên không trung cất lên: “Con trời chẳng biết mặt cha. Lớn lên trung dũng tài ba khác thường. Ai về bên bến sông Tương. Chớ gần cô tiểu mà vương phải bùa”. Và một buổi sớm tôi lên núi đúng vào giờ tụng kinh của các sư chùa Tiêu. Được một ni sư chỉ đường lên đỉnh cao, ở đó có tượng Sư Tổ Vạn Hạnh bằng đá trắng sừng sững trên trời xanh. Tôi chậm bước lên từng bậc đá và chợt nghĩ trong cái hiện hữu lại có cái hư vô đến lạ kỳ. Sắc sắc không không là vậy. Tình yêu là suối nguồn của sức mạnh luôn luôn hiện hữu và vô hình ở khắp mọi nơi trên thế gian này. Việc một người đàn bà thử ướm chân vào vết chân thần ở ngoài vườn mà sinh ra Thánh Gióng quả là chuyện tình kỳ ảo và hiện hữu bao la. Bao đời nay, người đời tôn thờ và tưởng nhớ đến: “Ai ơi mùng chín tháng tư. Không đi hội Gióng cũng hư mất đời”. Cái vô thường nghĩ cho cùng lại là hữu hạn tự ở con người. Mối tình kia đã hóa về trời. Con trời đã được trao cho kiếp làm người trên trần thế để đem lại hạnh phúc cho chúng sinh. Đó là nút kết của câu chuyện tình bí ẩn nhất, vĩ đại nhất của kho tàng cổ tích trên dòng sông Tiêu Tương.
Ghi chép: Cảnh Linh
Nguồn Trang Sức khỏe & Đời sống Online
Đọc tiếp »

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Bí mật giờ mới kể của nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới

Tờ The Mirror nổi tiếng của Anh mới đây đã đăng tải bài viết về Laura Lynne Jackson, người có thể “nói chuyện” với những đứa trẻ xấu số đã qua đời…

Đối với nhiều người, Laura Lynne Jackson là 1 người vô cùng kỳ lạ, bởi cô thường hay nói chuyện 1 mình. Đôi khi, họ lại tưởng cô bị điên. Nhưng thực tế không phải vậy. Đó là lúc Laura nói chuyện với những đứa trẻ không tồn tại.
Laura Lynne Jackson được cho là một nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới.
Laura được biết tới như là 1 nhà ngoại cảm hàng đầu thế giới. Và cô được ví như chiếc cầu nối đặc biệt giúp nhiều bậc phụ huynh liên lạc với những đứa con đã chết của họ.
Laura tin rằng “thế giới bên kia” có tồn tại và đây là nơi sinh sống an toàn của các linh hồn. Tuy nhiên, không phải chỗ nào cô cũng có thể nói chuyện được với các linh hồn, mà chỉ khi ngồi vào ô tô thì khả năng của cô mới có thể phát huy.

Cô chia sẻ, mỗi khi bước vào xe ô tô cô lại có 1 cảm giác vô cùng đặc biệt. Cô nghe thấy những tiếng nói chuyện lạo xạo, những lời mô tả nho nhỏ và hình ảnh mờ mờ ảo ảo của rất nhiều đứa trẻ. Các bé đều muốn gặp cha mẹ của mình và nhờ cô giúp đỡ.
“Các bé như muốn nói rằng: “Tôi ở đây, tôi vẫn tồn tại trong cuộc sống của con người”. Nhiều lúc tôi phải nói với chúng rằng, hãy nói chậm và rõ ràng, vì chúng nói rất nhanh.”
Laura phát hiện ra khả năng đặc biệt này khi 11 tuổi. Đó là lúc mẹ của cô đến nghĩa trang thăm mộ ông cô. Laura đã đi cùng mẹ và đây là lần đầu tiên cô nhìn thấy ông mình hiện ra trước mặt.

Vài năm sau, cô ngủ và nằm mơ đi chơi cùng với 1 nhóm bạn, trong đó có John Moncello. Nhưng trong giấc mơ, cô mơ thấy John bị ngã xuống 1 cái hố và chết. Và sự thật này sau đó đã xảy đến…
Lúc đó, Laura rất lo sợ, cô thực sự cảm thấy sợ khả năng của mình.

Khả năng nói chuyện với người chết từng khiến Laura Lynne Jackson rất lo sợ.
Thời gian trôi qua, cuối cùng, Laura đã trưởng thành và cô lại vui vẻ chấp nhận khả năng của mình. Cô tin rằng đây là một món quà mà chúa trời ban tặng.
Cô đồng ý để các nhà khoa học làm những thí nghiệm trên não mình để phục vụ nghiên cứu cho lĩnh vực tâm linh.

Laura Lynne Jackson giúp các em bé “bên kia thế giới” kết nối được với cha mẹ mình.
Đến nay, cô đã trở thành chiếc cầu nối hữu hiệu để truyền tải những thông điệp mà nhiều đứa trẻ muốn nói với cha mẹ mình. Đôi khi đó chỉ là những lời yêu thương, nhớ nhung mà những đứa trẻ muốn gửi đến cha mẹ chúng.
“Tôi nghĩ rằng tất cả những đứa trẻ mà chúng ta sinh ra đều có sự kết nối với chúng ta. Dù rằng không ít trong số chúng chết vì bệnh tật, tai nạn… hoặc thậm chí bị cha mẹ bỏ ngay khi chưa thành hình thì chúng vẫn dõi theo chúng ta.
Và nếu như thế giới thực của chúng ta không hoàn toàn an toàn cho chúng, thì ở thế giới bên kia chúng lại được an toàn và được chở che.”
Phương Thảo (Theo Mirror)
Đọc tiếp »

Bí ẩn quanh kim tự tháp lâu đời nhất ở Ai Cập

Được xây dựng tại Saqqara khoảng 4.700 năm trước, kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp đầu tiên của người Ai Cập.
Djoser đôi khi được đánh vần là Zoser, (mặc dù thực tế ông được gọi là Netjerykhet) là vị vua triều đại thứ ba của Ai Cập.
Người lập kế hoạch xây dựng kim tự tháp là Imhotep, tể tướng của triều đại sau đó đã được tôn sùng như một vị thánh nhờ các đóng góp của mình.
Kim tự tháp có nguồn gốc ban đầu là một lăng mộ Mastaba - một kiến trúc mặt bằng hình bình hành, trải qua hàng loạt công việc xây dựng đã hình thành một kim tự tháp cao 60 mét với sáu tầng được xây chồng lên nhau.
Việc xây dựng kim tự tháp cần 11,6 triệu mét khối đá và đất sét. Các hầm bên dưới kim tự tháp tạo nên một đường dẫn dài khoảng 5,5km.
Kim tự tháp bậc thang Djoser là kim tự tháp lâu đời nhất Ai Cập.

Khu liên hợp

Kim tự tháp nằm ở trung tâm khu liên hợp rộng khoảng 15 hecta, được bao quanh bởi một tường đá vôi gồm 13 cánh cửa giả cũng như lối đi thực sự ở phía đông nam.
Một ngôi đền nằm ở phía bắc của kim tự tháp dọc với tượng đài của vị vua. Tượng đài được bao quanh bởi kiến trúc đá nhỏ được biết đến như là “serdad”. Phía nam của kim tự tháp là một cung điện được rào chắn xung quanh bởi một bệ thờ và các tảng đá.
Rất nhiều các tòa nhà mặt tiền được xây dựng trong khu liên hợp, bao gồm một loạt nhà thờ nhỏ ở phía đông nam cũng như các sảnh đường bắc và nam ở phía đông kim tự tháp. Các cấu trúc phục vụ cho mục đích tôn giáo.
Ở phía đông nam của khu liên hợp, cạnh các nhà thờ nhỏ là một cung điện có lẽ được xây dựng dành cho vua tổ chức các lễ hội Hed - Seb ở thế giới bên kia.
Ở phía nam cuối của khu liên hợp là một lăng mộ huyền bí với một nhà thờ nhỏ. Nó gồm hàng loạt các đường hầm bắt chước kiểu dáng các đường hầm được tìm thấy phía dưới kim tự tháp. Điều gì được chôn giấu ở đó là một điều bí mật.
Một nhà thờ nhỏ trong cung điện Hep-Sed ở kim tự tháp bậc thang Djoser.

Lăng mộ của Vua

Bên dưới kim tự tháp bậc thang là một dãy hỗn tạp các đường hầm và căn phòng, trung tâm là một hầm sâu 28 mét ở dưới đáy là lăng mộ của vua Djoser.
Các công việc bảo tồn gần đây ở lăng mộ phát hiện các mảnh quan tài bằng đá granit của vị vua và tên của các nữ hoàng vẫn còn có thể đọc được.
Nhà Ai Cập học Zahi Hawass, nguyên giám đốc hội đồng di sản tối cao Ai Cập trong một đoạn video vào năm 2009 nói về công việc bảo tồn ở kim tự tháp: “Kim tự tháp bậc thang là kim tự tháp duy nhất trong triều đại cổ mà có mười một trong số các con gái của vua được chôn bên trong".
Hầm mộ ban đầu có thể được trang trí bởi khối đá vôi chứa các ngôi sao năm cánh tạo thành một trần đầy sao. Tuy nhiên, không biết vì lý do gì, việc trang trí này bị những người xây dựng dỡ bỏ thay vào đó là một phòng chôn bằng đá granit đơn giản hơn.

Đường hầm và cung điện dưới mặt đất

Hai lối đi dẫn tới hầm ngầm và chia ngả thành ba hướng. Ở đó chứa ba phòng trưng bày, một hầm nhỏ đặc biệt chứa đồ ăn, và một phòng chưa hoàn thiện có thể đã được xây dựng làm cung điện dưới mặt đất của thế giới bên kia.
Ba cánh cửa giả chứa các họa tiết cho thấy sự sùng bái tôn giáo của vua. Buồng được trang trí với hàng nghìn gạch vuông bằng sứ xanh bắt chước hình vẽ chiếu đan bằng sậy trong cung điện của nhà vua ở Memphis. Căn phòng ở bên dưới kim tự tháp này được hoàn thành một cách nhanh chóng.
Một hầm khác, bắt đầu ở phía bắc của kim tự tháp, chứa 40.000 bát đá, nhiều trong số đó thuộc về tổ tiên của vua. Các quan tài và các phần của hài cốt cũng được tìm thấy.

Sự bảo tồn ngày nay

Kim tự tháp bậc thang là một công trình không bền chắc với những dự đoán cho thấy rằng nếu không có công việc bảo tồn thì các hầm bên dưới kim tự tháp có thể sập và tượng đài có thể mất đi một phần đáng kể trong một vài thập kỉ nữa.
Người Ai Cập đã bắt đầu nỗ lực bảo tồn di sản nhiều năm trước và gần đây Cintec, một công ty xây dựng Anh đã được huy động để hỗ trợ nỗ lực bảo tồn. Họ sử dụng các túi khí lớn để nâng đỡ mái kim tự tháp trong khi thực hiện các công việc sửa chữa cấu trúc kim tự tháp.

Sự vinh danh

Với việc xây dựng kim tự tháp bậc thang, Imhotep cuối cùng được sùng bái như một vị thánh. Nhà Ai Cập học Marc Van De Mieroon viết trong cuốn sách “Lịch sử của Ai Cập cổ đại” của mình rằng vua Djoser dành cho Imhotep một đặc ân, cho phép tên và danh hiệu của ông được khắc vào nền tượng đài vua.
Tham khảo: Livescience
Cập nhật: 30/03/2017Theo Giáo Dục, Livescience
Đọc tiếp »

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Ngôi chùa có hàng ngàn chú chim tìm về

06/03/2017 9:15 Chiều

Ở đó có một ngôi chùa với diện tích không lớn nhưng lại là nơi tụ về của rất nhiều loài chim di trú, khiến không gian chùa giống như một ốc đảo xanh, là nơi bảo tồn cuộc sống của nhiều loài chim.

Đó là chùa Hang ở khóm 4, thị trấn Châu Thành (huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh). Đường từ thành phố trẻ Trà Vinh đến chùa chỉ dài khoảng năm cây số, qua cống ngăn mặn Tầm Phương đã thấy rừng sao dầu xanh thẫm bên tay trái. Chùa Hang là một ngôi chùa nổi tiếng trong số 141 ngôi chùa Khmer của tỉnh Trà Vinh, nơi mà bầy chim di trú tìm về.
Rất nhiều bầy chim di trú tìm về. 
Là ngôi chùa theo hệ phái Nam tông, tên chữ Phạn chính thức của chùa là Kompongnigrodha, được xây dựng đã hơn 370 năm. Chùa nằm bao quanh bởi làng mạc, ruộng vườn, rợp xanh bóng cây, tách biệt hẳn với cái ồn ào đô thị. Đi qua “hang cổng”, có cảm giác không khí mát lạnh bao trùm khắp nơi. Không khí này có được nhờ bóng mát của vô số cây sao dầu có tuổi thọ hàng trăm năm trên diện tích khoảng chục hecta của chùa. Đi trên con đường rợp mát bóng cây và không khí thanh sạch, bao nhiêu bụi trần hầu như tan biến, khiến lòng khách phương xa bâng khuâng cảm khái mùi thiền. Trong khung cảnh thiên nhiên đó có một vườn chim rộng đến hơn 1 mẫu đất với nhiều loài chim di trú phương nam như cò, diệc, cồng cộc. Mùi thiền như còn tỏa ra từ những ngọn sao dầu và me cổ thụ trong tiếng kêu vang động khắp nơi của lũ chim đậu trên ngọn cây.
Sư cả trụ trì chùa Hang cho biết, trước kia chùa có đàn dơi quạ “đông không kể xiết”. Nhưng vào năm Mậu Thân (1968), một quả bom rơi trúng chùa khiến đàn dơi tản đi biệt tăm cho đến giờ. Ngày nay, chùa chỉ còn đàn cò, diệc, cồng cộc cư trú. Mỗi sáng, lúc bình minh sắp ló dạng, đàn chim bay đi khắp nơi kiếm ăn. Chiều tối, chúng lại tụ họp về chùa, chuyện trò rất vui tai. Là người từ khi về trụ trì ngôi chùa này, Sư cả Thạch Xuồng đã yêu chim từ hồi còn nhỏ. Sư Thạch Xuồng cho biết, hồi những năm 90 của thế kỷ trước, các loài chim chóc: sáo, hoành hoạch, chèo bẻo, cu cườm, cò, diệc, cồng cộc… thường về ở, kiếm ăn. Mùa đông có cả loài chim di cư có tên là cu gầm gì to như con gà mái có bộ lông màu xanh lá chuối rất đẹp từ trên núi bay về tránh bão…
Chim tìm về sân chùa Hang, khiến khung cảnh càng trở nên thanh bình. 
Trong chùa, ngoài việc học tập Phật pháp, tham gia lớp học điêu khắc, các sư ở đây đều góp công sức trong việc gầy dựng và chăm sóc vườn chim trong chùa gần 30 năm qua. Sư Lý Thảo bộc bạch rằng thời gian đầu, nhiều phật tử tỏ ý không hài lòng với việc nuôi chim trong chùa vì chúng thường đậu trên cây và phóng uế xuống phía dưới trúng vào bà con phật tử gây sự khó chịu. Nhưng ngoài thời gian kinh kệ và những công việc khác liên quan đến nhà chùa, thì mỗi sáng, mỗi chiều nhìn chúng múa, nghe chúng kêu, hót; tự tay chăm sóc nâng niu từng con một… các sư nơi đây thấy lòng mình thanh thản và tinh khiết hơn. Mà đất có lành chim mới đậu chứ!” Sư Lý Thảo cười bộc bạch.
Đến với chùa hang, ngoài việc vãn cảnh và lễ chùa, cảm giác của nhiều người là sự bình yên. Nhiều người đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy ngay ở trong sân chùa, sao lại có thể nhiều chim đến như thế! Chim ở đủ mọi nơi. Chim trên các mái, chim trên dây điện, chim trên cây, chim trên sân… Ngay cả phía ngoài cổng chùa trên đường phố đông đúc người xe, từng đàn chim vẫn đỗ đầy trên vỉa hè. Người đi lại, cứ đi, mải miết hay thong dong ở giữa, còn phần sát với đường phố tấp nập xe chạy, quanh những gốc cây, chim vẫn điềm nhiên mổ hạt, vẫy cánh, rỉa lông. Chỉ khi có người đến gần, chúng mới tung cánh, bay cao như nhường đường rồi lại điềm nhiên hạ xuống cách đó không xa…
Nhiều chim đậu trên cây ở chùa. 
Trời đang nắng, dưới bóng râm những tán cây, tự nhiên thấy rợp bóng chim khi một đàn chim chắc khoảng mấy trăm con đồng loạt tung cánh. Chim không của ai cả, nhưng là của tất cả mọi người. Các sư ở đây cũng thường xuyên ném thức ăn cho chim. Những thức ăn này là của những người vô danh dành cho chim. Sư Lý Thảo bảo ở đây, có nhiều người nấu những nồi cơm to đứng bên đường cúng dường cho các nhà sư đi khất thực bằng tấm lòng trân trọng cung kính vào mỗi sáng sớm thì cũng vào lúc ấy, cũng có những người, lo cái ăn cho chim. Có lẽ, lòng người khi rộng mở, thì cũng là lúc chim tụ về, sống bình yên và hài hòa như thế.
Minh Ngọc
Theo phununews.vn
Đọc tiếp »

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

Của thiên trả địa

Ngày xửa ngày xưa, ở một làng nọ có hai chàng trai cùng làm nghề cuốc mướn cày thuê, một anh là Thiên, anh kia là Địa. Cả hai đều có điểm giống nhau chính là họ đều là những kẻ nghèo rớt mùng tơi, hơn nữa cả hai đều là trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ. Tuy nhiên thì Thiên lại có phần sáng dạ hơn, ai bảo gì thì anh đều hiểu được. Vậy là một ngày kia Địa mới bảo Thiên rằng:
– Nếu như cả hai ta đều cùng thế này thì không biết đến bao giờ mới có thể ngước đầu lên được. Nhưng anh lại được cái thông minh, nếu mà được học hành đến nơi đến chốn thì sau này chắc chắn sẽ thi đậu được làm quan to. Tôi nghĩ rồi, từ mai anh đừng làm nữa, một mình tôi sẽ cố gắng sức để làm thêm, lấy tiền để nuôi anh việc ăn học. Khi nào anh được ăn nên làm ra rồi thì đôi ta sẽ cùng hưởng chung phú quý.
Thiên nghe bạn nói vậy cũng gật đầu đồng ý, Địa cũng không quên dặn dò: “Khi nào anh hiển đạt rồi thì đừng quên tôi đấy nhé!”.
Sau ngày ấy thì Địa luôn cật lực ngày đêm làm thuê lấy tiền nuôi bạn học hành. Khi thấy Thiên càng học càng tiến thì anh chàng cũng càng hăng say làm việc hơn, không quản chi chuyện gì. Thời gian cứ như vậy trôi qua, loáng cái đã qua mười năm dùi mài đèn sách, cuối cùng thì Thiên cũng được đậu khoa thi hương, sau đó lại tiếp tục đi thi đình và đỗ Trạng nguyên. Nhà vua bổ nhiệm hắn làm quan to trong triều, người hầu kẻ hạ trong phủ vô cùng đông đúc, còn có được dinh thự vô cùng nguy nga, hắn cũng được tất cả mọi người trong thiên hạ trọng vọng.
Nghe tin Thiên đỗ Trạng nguyên lại được vua cất nhắc, Địa vô cùng sung sướng. Vì vậy mà ngay lập tức anh chàng này đem trâu cày đến trả lại cho chủ. Sau đó không chần chờ bán luôn cái nhà mà mình đang ở để lấy chút tiền mua chút đồ lễ đến tìm dinh bạn. Nhưng Địa nào ngờ được rằng khi cầm theo đồ lễ đến nơi ở của Thiên thì kẻ kia cũng đã thay lòng đổi dạ tự bao giờ, hắn bây giờ chẳng muốn nhận người bạn cũ này nữa. Hơn nữa hắn còn không quên căn dặn bọn lính canh chặn Địa ở ngoài cổng không cho vào. Bị bạn đuổi thì Địa tủi thân lắm, nhưng không còn cách nào đành lủi thủi trở về.
Khi anh chàng đi tới bờ sông thì liền ngồi lại, nghĩ đến bạn lại không ngờ lòng người đen bạc, nước mắt lại rơi lã chã, anh chàng tự thương cho cái số phận hiu hẩm của mình. Hơn nữa bây giờ có muốn trở về làng thì cũng không còn chỗ nào để ở, vì anh đã lỡ bán mất căn nhà của mình rồi.
Đột nhiên Bụt từ đâu hiện lên, giả làm một người đi đường ngang qua chỗ anh rồi dừng lại và hỏi thăm:
– Làm sao con lại ngồi đây mà khóc?
Nghe thấy Bụt hỏi vậy, Địa cũng thành thật kể hết đầu đuôi tất cả mọi chuyện. Sau đó Bụt bèn hóa phép biến ra cho anh chàng một chiếc thuyền, rồi dặn:
– Thôi thì bây giờ con hãy ở lại nơi bến sông này chở khách đò qua lại cũng sẽ đủ ăn, không cần phải đi đâu làm thuê làm mướn nữa.
Từ ngày đó Địa ở luôn nơi bến sông để làm chống đò chở khách sang ngang. Tuy nhiên thì anh chàng cũng chỉ làm đủ tiền nuôi miệng chứ không thể để dành được ít nào. Bởi vậy mà ngày giỗ cha cũng đã đến nhưng anh lại chẳng có gì để mà làm cúng được.
Buổi chiều ngày hôm ấy, khi chở được mấy lượt khách sang bên kia bờ sông, Địa vừa đưa truyền đi về được nửa sông thì lại nghe thấy có tiếng ai gọi đò. Dù đã đi xa nhưng anh vẫn quay thuyền lại. Người gọi đò là một người đàn bà trẻ tuổi, rất xinh đẹp. Khi ấy trời cũng đã nhá nhem tối rồi, người đàn bà kia bảo Địa rằng:
– Trời tối rồi mà đường tôi cần đi còn xa quá, anh có thể làm ơn để tôi nghỉ nhờ ở đây qua đêm nay được không?
Nhà Địa ở hiện giờ chỉ là một túp lều nho nhỏ mà anh chàng dựng tạm bên bờ sông, bên trong nhà cũng chỉ có duy nhất một chiếc chõng, nhưng là anh cũng vui vẻ nhường nó cho người đàn bà kia nằm.
Khi Địa chuẩn bị trở ra ngoài để tìm nơi ngủ tạm thì người đàn bà tự nhiên lại hỏi anh là:
– Anh đã cưới vợ chưa?
Tuy là ngạc nhiên nhưng Địa cũng vẫn trả lời thật:
– Tôi chưa.
– Vậy tôi xin được làm vợ anh nhé!
Lúc này thì Địa không chỉ ngạc nhiên mà còn rất bỡ ngỡ nữa, anh hoàn toàn không biết phải trả lời người kia thế nào.
Thấy vậy nàng lại nói tiếp:
– Tôi đây vốn là người ở cung tiên. Vì trời thấy anh là một người tử tế nhưng phải chịu nhiều khổ sở nên mới phái tôi xuống đây để giúp cho anh được sung sướng.
Khi nói xong nàng lập tức hóa phép để biến túp lều nhỏ bên bờ sông của Địa thành dinh cơ vô cùng đẹp đẽ có nhà ngói, có tường đất, lại còn cả hành lang và sân gạch, bên trong nhà thì các thứ đồ dùng đều có đầy dủ, hơn nữa còn có từng đoàn người hầu kẻ hạ nữa.
Nhìn thấy những điều này thì Địa vừa kinh lạ lại vừa vui sướng. Sau đó nàng tiên lại tiếp tục làm phép hóa ra những cỗ bàn vô cùng linh đình giúp anh chàng tổ chức giỗ cúng cho cha. Sáng ngày hôm sau thì nàng tiên nói với Địa mặc đồ bằng gấm vóc, rồi ngồi lên kiệu để đến nhà Thiên, mời hắn tới nhà mình để ăn giỗ.
Khác với lần trước, lần này khi Địa đến thì Thiên cho người tiếp đãi tử tế hơn. Tuy nhiên khi nghe Địa nói tới là để mời hắn đến nhà ăn giỗ cúng cha thì hắn liền bĩu môi mà nói rằng:
– Nếu như chú muốn mời ta đến nhà chú chơi thì hãy đem chiếu hoa trải từ đây tới đó, như thế thì ta sẽ đến.
Nghe hắn nói, Địa liền trở về và kể lại toàn bộ cho vợ mình nghe. Sau đó nàng tiên hóa phép để trải chiếu hoa hết đoạn đường dài bắt đầu từ cổng nhà mình cho đến tận dinh nơi Thiên đang ở. Thiên cũng không ngờ được rằng chỉ trong một thời gian ngắn mà Địa đã trở thành người giàu có, vì vậy liền đến xem rõ sự tình. Khi đến nơi quả thực hắn thấy vô cùng lạ lẫm với nhà cửa cũng như đồ đạc trong nhà Địa, hắn biết với cơ ngơi bây giờ thì có rất ít người có thể bì kịp với Địa. Trong khi ăn giỗ thì vợ Địa cũng tự mình ra để mời rượu. Thiên nhìn thấy nàng thì động lòng, bởi vì nàng quả thực quá đẹp, hắn đâm ra lại ghen tỵ khi thấy Địa được hạnh phúc.
Khi rượu say thì hắn nói:
– Này, chú hãy đổi cho tôi vợ chú, cơ nghiệp của chú cho tôi, còn tôi sẽ nhường cho chú chức quan và dinh cơ hiện tại của tôi cho chú.
Địa tất nhiên không bao giờ mong muốn điều đó xảy ra. Nhưng chưa kịp từ chối thì nàng tiên đã nói nhỏ bên tai khuyên Địa đồng ý. Vậy là hai bên cùng lúc làm giấy tờ giao ước. Sau đó thì Địa được người hầu điệu lên võng trở về dinh, Thiên thì say rượu ngủ ly bì một giấc lâu. Sáng hôm sau khi Thiên tỉnh lại, hắn hoàn toàn ngơ ngác khi nhìn thấy mình đang nằm trong một túp lều lụp xụp cạnh bên sông. Hắn không tìm thấy người vợ xinh đẹp và dinh cơ lộng lẫy ngày hôm qua đâu, tất cả đều biến mất hết. Kể từ ngày đó thì hắn đành làm tiếp công việc chống đò của Địa trước đây. Còn Địa bây giờ bỗng lại hóa thông minh và khôn ngoan hơn, sau đó cứ làm quan và hưởng sung sướng đến hết đời.
Nguồn sưu tập

Kết luận:

Người đời hay nói:"Của thiên trả địa. Phàm những gì không phải của mình, do mình tạo
dựng, tất nhiên sẽ không thuộc về mình. Giọt nước trên trời cũng vậy, đã rơi xuống đất
ắt sự luân hồi của nó cũng không ở một nơi được. Tất cả đều tan biến và chuyển dời theo
lẽ tự nhiên. Một cân nói ngắn ngũi nhưng hàm ý rất sâu, dân gian đã khéo léo mượn cách
ví von để nói bóng nói gió về cái ngữ nghĩa không có gì tồn tại vĩnh cữu. Cái hay ở chổ
câu chuyện đã khéo léo gán danh phận tên tuổi trong cốt truyện, để rồi dẫn dắt nội dung
về một kết cuộc, ngụ ý dạy người đời gìn giữ những thứ quý báu nhất trong cuộc sống.
Chỉ có tình bạn và nghĩa tình mới là thứ phúc báu, vẫn còn tồn tại mãi mãi mà thôi.
Đọc tiếp »

7 cách giúp bạn chụp ảnh màn hình trên Windows 10


Dùng công cụ Snipping Tool hay Snip Editor, sử dụng tổ hợp phím Windows + H hay Windows + PrtScn... là những cách giúp bạn chụp ảnh màn hình trên Windows 10.

------------
Chụp ảnh màn hình là cách rất tiện lợi khi bạn cần chia sẻ thông tin gì đó có trên màn hình của mình cho bạn bè, hay khi bạn thực hiện các bài viết hướng dẫn sử dụng. Trên OS X, Apple tích hợp công cụ chụp ảnh màn hình rất tiện lợi. Với phím tắt Command + 3, bạn có thể chụp ảnh toàn màn hình, và với Command + 4, bạn được chọn chụp lại 1 phần nào đó trên màn hình tùy ý. Ảnh chụp sẽ được tự động lưu trên desktop của Mac.  Với Windows 10, mọi việc không đơn giản như thế. Có khá nhiều công cụ trên hệ điều hành này phục vụ cho việc chụp ảnh màn hình, từ hàng loạt các phím tắt, tổ hợp phím, cho tới phần mềm.  
Snipping Tool 

Snipping Tool.  Đây là công cụ chụp ảnh màn hình tích hợp trong Windows và đã có từ Windows Vista. Bạn có thể tìm thấy nó trong Start > All Programs > Windows Accessories > Snipping Tool. Để sử dụng, bạn mở nó và click vào New và bắt đầu quá trình chụp ảnh màn hình. Ảnh chụp mặc định của ứng dụng này là ảnh hình chữ nhật. Bạn phải dùng con trỏ chuột để crop phần cần chụp. Snipping Tool cũng cho phép bạn chụp ảnh toàn màn hình, chụp dạng free-form (tự do) hay window. Công cụ không tự động lưu ảnh lại mà bạn phải làm thủ công việc này. Snipping Tool, dù vậy, hỗ trợ tự động copy ảnh vào clipboard, nhờ đó, bạn có thể mở các công cụ như MS Paint hay phần mềm sửa ảnh rồi dán ảnh vào để sử dụng ngay. 
Nút PrtScn trên bàn phím


   Để chụp lại toàn bộ màn hình, bạn có thể dùng nút PrtScn trên bàn phím. Ảnh chụp sẽ không được lưu lại tự động, nhưng nó sẽ được copy vào clipboard. Bạn cần mở một công cụ chỉnh sửa ảnh (như MS Paint), dán ảnh chụp màn hình vào trình sửa ảnh này rồi lưu file từ đó.  
Phím Windows + PrtScn  
Để chụp lại toàn bộ màn hình và tự động lưu ảnh, bạn nhấn tổ hợp phím Windows + PrtScn. Sau khi nhấn, bạn sẽ thấy màn hình tối đi trong 1 chốc lát để báo hiệu rằng các nội dung trên đó vừa được chụp lại. Ảnh sẽ được tự động lưu trong phần Pictures > Screenshots trên máy tính. 
Phím Windows + H 
Nếu muốn chụp lại toàn bộ màn hình cho mục đích chia sẻ, bạn có thể dùng tổ hợp phím Windows + H. Với phím tắt này, toàn bộ màn hình sẽ được chụp lại, đồng thời thanh công cụ Windows Share sẽ được mở ra để bạn có thể ngay lập tức chia sẻ với bạn bè qua email, Facebook, OneNote... 
Alt + PrtScn  
Để chụp ảnh màn hình cửa sổ đang mở, bạn dùng phím tắt Alt + PrtScn. Ảnh chụp sẽ được copy vào clipboard, và bạn cần 1 công cụ chỉnh sửa ảnh để dán ảnh và lưu nó lại.  
Logo Windows + nút giảm âm lượng    

Nếu đang sử dụng máy tính Surface của Microsoft, bạn có thể phím vật lý để chụp ảnh màn hình tương tự như cách chụp trên smartphone hay tablet. Để chụp, bạn nhấn giữ logo Windows trên màn hình cảm ứng rồi bấm phím giảm âm lượng nằm ở cạnh máy. Màn hình sẽ tối đi trong chốc lát để báo hiệu ảnh đã được chụp thành công, và bạn có thể vào mục Pictures > Screenshots để tìm nó.  
Snip Editor 

Snip Editor.  Snip Editor, hay Microsoft Snip, là sản phẩm của dự án Microsoft Garage và hoạt động hiệu quả hơn một chút so với Snipping Tool. Snip Editor cho phép bạn nhanh chóng chụp ảnh toàn màn hình, hoặc ảnh hình chữ nhật do bạn crop thủ công. Bạn cũng có thể thiết lập để biến nút PrtScn làm phím tắt cho công cụ chụp màn hình của Snip Editor.  Công cụ cũng cung cấp nhiều cách giúp bạn ghi chú cho ảnh chụp, như công cụ bút, hay cả ghi âm giọng nói. Giống Snipping Tool, Snip Editor cho phép bạn hẹn giờ chụp sau 5 giây.  
MT (Theo Cnet) 
Theo VietBao.vn (Theo_Ictnews >>>)
------------
Đọc tiếp »